Cụ thể, đến 12/10, giá lúa khô loại thường ở tại kho là 5.600 - 5.700 đ/kg, lúa khô hạt dài 5.900 - 6.000 đ/kg. So với 1 tuần trước đó, giá lúa khô loại thường tăng 300 đ/kg, lúa hạt dài tăng 500 đ/kg.
Giá gạo hàng hóa ở ĐBSCL cũng đang tăng lên. Vào ngày 12/10, giá các loại gạo nguyên liệu đều tăng 200 đ/kg so với đầu tháng 10. Gạo nguyên liệu loại 1 làm ra gạo 5% tấm hiện ở mức khoảng 7.35 - 7.450 đ/kg; gạo nguyên liệu làm ra gạo 25% tấm là 7.200 - 7.300 đ/kg. Giá gạo thành phẩm XK thì tăng nhẹ hơn, từ 50 - 100 đ/kg. Gạo 5% tấm không bao bì tại mạn tàu hiện khoảng 8.500 - 8.600 đ/kg, gạo 15% tấm 8.250 - 8.350 đ/kg và gạo 25% tấm khoảng 8.000 - 8.100 đ/kg.
Giá gạo XK loại 5% tấm cũng tăng nhẹ trong tuần qua, với mức tăng khoảng 5 USD/tấn, và hiện ở mức 390 - 395 USD/tấn. Giá lúa gạo tăng chủ yếu do nguồn cung thấp khi vụ HT đã cơ bản kết thúc. Đến nay, các tỉnh ĐBSCL đã thu hoạch được khoảng 1,6 triệu ha lúa HT trên tổng diện tích xuống giống là 1,64 triệu ha, năng suất bình quân 5,5 tấn/ha.
Theo VFA, trong tháng 9, các DN XK được 514.398 tấn gạo, trị giá FOB 223,663 triệu USD, trị giá CIF 228,884 triệu USD. Như vậy trong 9 tháng đầu năm nay, XK gạo đã đạt 4,388 triệu tấn, trị giá FOB 1,889 tỷ USD, trị giá CIF 1,933 tỷ USD.
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Chuyển đổi số tỉnh năm 2026 của Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh
Thực hiện Nghị quyết số 424/NQ-CP ngày 30/12/2025 của Chính phủ và Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội về Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2035 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Chuyển đổi số tỉnh Hà Tĩnh năm 2026
Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về NTM giai đoạn 2026 - 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ NN và MT
Phê duyệt danh sách các xã nhóm 1, nhóm 2 và nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026–2030