Thông tin nhanh từ một số chủ vựa ở tỉnh Tiền Giang cho hay, giá mít Thái hôm nay 18/8 tăng 2.000 đồng/kg so với hôm qua. Trước đó 1 ngày, mít Kem nhỏ (hoặc mít Nhì) đã tăng 1.000 đồng/kg.
Cập nhật giá mít Thái hôm nay 18/8 tại ĐBSCL cho thấy, giá mít tăng thêm 2.000 đồng/kg so với hôm qua. Giá mít Tiền Giang cao nhất tại vựa 23.000 đồng/kg. Ảnh minh họa, nguồn facebook
Tại Tiền Giang, các vựa mua mít Kem lớn (mít Nhất) từ 22.000 - 23.000 đồng/kg, còn mít Kem nhỏ (mít Nhì) từ 12.000 - 13.000 đồng/kg.
Cụ thể, vựa 001 ở xã Tân Hưng, huyện Cái Bè báo giá mua mít Nhất 23.000 đồng/kg, còn mít Nhì 13.000 đồng/kg.
Vựa Phú Tân ở xã Mỹ Trung, huyện Cái bè, tỉnh Tiền Giang báo giá mua mít Kem lớn 22.000 đồng/kg, còn mít Kem nhỏ 12.000 đồng/kg.
Vựa mít Lên 68 ở xã Mỹ Lợi A, huyện Cái bè, tỉnh Tiền Giang cũng báo giá mua mít Kem lớn 22.000 đồng/kg, mít Kem nhỏ 12.000 đồng/kg.
Đối với giá thu mua tại vườn ở Tiền Giang, các thương lái cho hay, mua mít Kem lớn (hoặc mít Nhất) từ 20.000 - 21.000 đồng/kg, mít Kem nhỏ (mít Nhì) từ 10.000 - 11.000 đồng/kg.
Tại Vĩnh Long, An Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, Long An và TP.Cần Thơ, các vựa thông báo, giá mít Thái hôm nay 18/8 cũng tăng 2.000 đồng/kg so với hôm qua.
Theo đó, các vựa mua mít Kem lớn (hoặc mít Nhất) từ 21.000 - 22.000 đồng/kg, giá mít Kem nhỏ (hoặc mít Nhì) từ 11.000 - 12.000 đồng/kg. Còn các thương lái vào vườn mua mít Kem lớn (hoặc mít Nhất) từ 19.000 - 20.000 đồng/kg, mít Kem nhỏ (hoặc mít Nhì) từ 9.000 - 10.000 đồng/kg.
Đối với mít Ba vẫn giữ giá như hôm qua, các vựa mua 6.000 đồng/kg, còn thương lái mua 4.000 đồng/kg. Đối với mít chợ, các vựa mua mít chợ loại 1 từ 6.000 đồng/kg, mít chợ loại 2 là 5.000 đồng/kg. Còn thương lái vào vườn mua mít chợ loại 1 chỉ từ 4.000 đồng/kg, mít chợ loại 2 từ 3.000 đồng/kg.
Nhà vườn than vì chỉ bán được với giá mít Kem nhỏ và mít chợ
Mặc dù giá mít Kem lớn (hoặc mít Nhất) đã từ 21.000- 23.000 đồng/kg (giá vựa, tùy địa phương), tuy nhiên, theo nhiều hộ dân trồng mít Thái ở xã Định An, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp cho biết, rất ít vườn bán được mức giá trên, nếu bán được cũng số lượng không nhiều.
"Tôi trồng 5.000m2 mít Thái đã 3 năm tuổi, mùa nghịch này tôi có để trái nhưng không nhiều. Vài ngày qua, thương lái có đến cắt nhưng phần lớn chỉ bán được với giá mít Kem nhỏ và mít chợ" - anh Lâm Văn Hữu ở xã Định An, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp cho hay.
Về nguyên nhân chỉ bán được với giá mít Kem nhỏ và mít chợ, anh Hữu cho biết, do mùa nghịch nên trái nhỏ, da không được đẹp. Và cũng do một phần là anh không tập trung chăm sóc nhiều sau thời gian dài mít Thái giảm giá mạnh trước đó.
Cũng như anh Hữu, anh Lê Minh Thành ở xã Bình Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang cho hay, mít mùa nghịch phần lớn trái không được đẹp. Do đó, đa số bị rớt xuống mít Kem nhỏ, thậm chí là mít chợ. Chỉ đối với một số vườn mít tơ, mới cho trái, tỉ lệ trái đạt mít Kem lớn (hoặc mít Nhất) sẽ khá hơn những vườn đã "ăn" nhiều năm.
"Mặc dù nhìn bên ngoài không khác nhiều và số ký chênh lệch không lớn nhưng trái mít bị mua với loại mít Kem nhỏ hoặc mít chợ có giá rất tệ, chỉ từ 3.000 - 11.000 đồng/kg trong khi mít Kem lớn (hoặc mít Nhất) nếu bán tại vườn từ 20.000 - 21.000 đồng/kg" - anh Thành thông tin.
Theo Duy Khánh
https://danviet.vn/gia-mit-thai-hom-nay-18-8-gia-mit-dat-23000-dong-kg-nha-vuon-than-vi-chi-ban-duoc-voi-gia-mit-kem-20220818085928442.htm
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Truyền thông về Chương trình MTQG xây dựng NTM, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện các Chương trình MTQG tỉnh Hà Tĩnh
Thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia tỉnh Hà Tĩnh
Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và điều kiện thuộc Quy định tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào
Thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM, GNBV và PTKTXH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2026 - 2030