Những loài cá được chọn nuôi ghép trong ao nước là những loài cá có tính ăn khác nhau (cá ăn thức ăn tự nhiên trong ao thường được làm giàu thêm thông qua việc bón phân) và ăn các loại rau, lá non, bèo tấm, bèo dâu, các loại bột ngô, bột cám từ sản phẩm nông nghiệp.
Những nơi có tập quán nuôi từ trước chưa có điều kiện thâm canh thì nên sử dụng các đối tượng: Cá trắm cỏ, cá chép, cá mè, cá trôi Ẩn Độ, cá rô phi. Những nơi có điều kiện thâm canh, nuôi năng suất cao cần sử dụng các đối tượng: Cá chim trắng; cá rô phi đơn tính, cá chép lai, cá rô đầu vuông.
Chuẩn bị ao nuôi
Ao nuôi cần chuẩn bị đầy đủ các điều kiện đó là nguồn nước sạch, không gần nơi ô nhiễm. Ao được thiết kế chuẩn trong nuôi thủy sản có cống cấp và thoát nước. Đáy ao bằng phẳng, hơi dốc về phía cống thoát. Cống cấp cách đáy 0,8 - 1 m, cống thoát nước nằm sát đáy ao.
Chọn, thả con giống
Chất lượng con giống sẽ quyết định quá trình sinh trưởng phát triển của đàn cá sau này. Bởi vậy, bà con cần chọn cá giống đảm bảo chất lượng, đều con, bơi lội hoạt bát, không dị hình. Vây cá phủ kín, không mất nhớt, không xây xát, quy cỡ tiêu chuẩn khoảng 8 - 12 cm. Màu sắc cá tươi sáng, đặc trưng với từng loài.
Để phòng bệnh cho cá, trước khi thả giống cần tắm khử trùng cho cá trong dung dịch muối ăn nồng độ 2 - 3% trong 5 - 10 phút, thuốc tím nồng độ 0,001 - 0,002% (1 g thuốc tím hòa trong 50 - 100 lít nước sạch), trong 10 - 20 phút hoặc dung dịch CuSO4, nồng độ 0,5 - 0,7 g/m3 nước trong 20 - 30 phút.
Tùy vào hình thức nuôi, thả với mật độ khác nhau. Nuôi trong ao nước tĩnh (nuôi đơn hay nuôi ghép) thả với mật độ 1 - 2 con/m2 mặt nước. Nuôi ghép ao nước chảy thả khoảng 3 - 5 con/m2. Khi thả ghép, tùy vào điều kiện ao nuôi mà nên chọn đối tượng cho phù hợp. Ao có diện tích lớn hơn 1.000 m2, màu nước xanh lá chuối, phân chuồng nhiều nên nuôi cá mè là đối tượng chính.
Quản lý, chăm sóc đàn cá
Lựa chọn thức ăn cho đàn cá cần phải phù hợp theo độ tuổi, nên sử dụng toàn bộ thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn viên các tháng đầu và cuối, còn những tháng giữa vụ cho ăn thức ăn tự chế từ nguồn phụ phẩm tại chỗ và rau. Cá nhỏ cho ăn thức ăn có hàm lượng đạm cao và giảm dần khi cá lớn. Cá nhỏ cho ăn với lượng 5 - 7% trọng lượng thân, cá lớn cho ăn 2 - 3% trọng lượng thân.
Ngoài ra, trong quá trình nuôi bà con cần theo dõi môi trường nước, mức độ ăn của đàn cá để nhận biết những dấu hiệu phát sinh dịch bệnh. Định kỳ 20 - 30 ngày bà con tiến hành thay nước, xử lý môi trường ao nuôi bằng vôi hòa tan trong nước hoặc dùng đến chế phẩm sinh học.
Theo Minh Châu/vietq.vn
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Chuyển đổi số tỉnh năm 2026 của Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh
Thực hiện Nghị quyết số 424/NQ-CP ngày 30/12/2025 của Chính phủ và Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội về Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2035 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Chuyển đổi số tỉnh Hà Tĩnh năm 2026
Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về NTM giai đoạn 2026 - 2030 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ NN và MT
Phê duyệt danh sách các xã nhóm 1, nhóm 2 và nhóm 3 trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026–2030