![]() |
| Diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở Bảy Núi khoảng 2.000 ha, một năm trồng được hai vụ lúa, tức là vụ hè thu và thu đông. Ngoài ra còn trồng được hoa màu và cây ăn trái vì vùng đất cao không thể đưa nước từ đồng bằng lên, nên người trồng lúa phải phụ thuộc vào "ông trời” (nguồn nước mưa trong năm) để trồng lúa. |
![]() |
| Tuy năng suất thấp, nhưng đặc biệt nơi đây lại sản xuất được loại lúa đặc sản gạo Nàng Nhen nổi tiếng cả nước. |
![]() |
| Diện tích canh tác lúa ở Bảy Núi đa phần nhỏ. Do địa hình núi đồi, việc đưa cơ giới vào thu hoạch rất khó nên hầu hết các nông dân phải làm bằng tay. |
![]() |
| Sau khi gặt xong, lúa được gánh về nhà. |
![]() |
| Những bông lúa chín vàng trĩu hạt là niềm vui ngày mùa của người nông dân vùng biên. |
![]() |
| Chỉ ít nơi không trở ngại đồi núi, việc thu hoạch được cơ giới hóa. |
![]() |
![]() |
| Đưa lúa đến sân phơi tập trung. |
![]() |
| Lúa phơi khô được bán lúa cho thương lái. Niềm vui nhất của người dân trồng lúa là trúng mùa được giá cao. |
![]() |
Người dân nơi đây tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp là rơm,
không đốt đi mà dùng để nuôi trâu bò vừa tăng thu nhập gia đình.
| P.V (theo VnE) |
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Thực hiện Kế hoạch số 22-KH/TU ngày 25/12/2025 của Tỉnh ủy thực hiện Kết luận số 219-KL/TW của BCT về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19 NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Kế hoạch chuyển đổi số năm 2026
Thực hiện Kết luận số 219-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của BCH TW Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030
Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình MTQG xây dựng NTM, GNBV và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 203