Có hai loại máy cấy do hãng Kubota sản xuất trình diễn trong đợt này gồm máy cấy ngồi công suất lớn và máy cấy tay SPW48C,trong đó máy cấy ngồi hiện trong giai đoạn thử nghiệm, riêng đối với máy cấy tay SPW48C dã chính thức bán ra thị trường.
Tại buổi trình diễn bà con nông dân chú ý đến ưu điểm: gọn, nhẹ (cân nặng 160 kg của máy), hoạt động được trong điều kiện nước sâu đến 30 cm và đất không bằng phẳng. So với cấy thủ công, cấy bằng máy bảo đảm hàng và khoảng cách cấy đồng đều, giúp cân đối không khí và ánh sáng mặt trời cho mỗi bụi lúa là yếu tố cần thiết để sản xuất giống lúa chất lượng cao. Bên cạnh đó với tốc độ cấy nhanh, trên 2 ha một ngày và tiết kiệm giống, sử dụng máy cấy giúp cho bà con nông dân giảm được chi phí sản xuất giống khoảng 5 triệu đồng/ha.
Yếu tố quan trọng nhất cho việc cấy bằng máy là khâu làm mạ, mạ phải được chuẩn bị trước từ 13 – 15 ngày, và được chăm sóc nghiêm ngặt bảo đảm độ dày bộ rễ. Theo bà con nông dan, khâu làm mạ cho máy cấy cần rất nhiều kỹ thuật nên các nhà chế tạo máy cần mở lớp tập huấn cho bà con. Bên cạnh đó, thiết kế giữa hai hàng cấy của máy cố định 30 cm là hơi thưa với tập quán sản xuất của bà con nông dân hiện nay.
Hiện nay, mỗi năm ba vụ tỉnh Đồng Tháp sản xuất gần 500.000 ha lúa, để đảm bảo chất lượng và năng suất lúa nhu cầu sử dụng giống nguyên chủng, giống xác nhận là rất lớn. Ước tính diện tích sản xuất giống cần có của tỉnh phải từ 12.000 – 15.000 ha, đây là những diện tích dự tính sẽ sử dụng ưu thế bảo đảm hàng và khoảng cách giúp cân đối không khí, ánh sáng mặt trời trên mặt ruộng tốt hơn so với cấy thủ công. Tuy nhiên, để bà con nông dân làm quen với quy trình sản xuất mạ và thay đổi tập quán sản xuất, nhà sản xuất dự đoán phải từ 2 – 3 năm để đưa máy cấy vào sử dụng đại trà.
Nguồn: Đài PT-TH Đồng Tháp
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Thực hiện Kế hoạch số 22-KH/TU ngày 25/12/2025 của Tỉnh ủy thực hiện Kết luận số 219-KL/TW của BCT về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19 NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Kế hoạch chuyển đổi số năm 2026
Thực hiện Kết luận số 219-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của BCH TW Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030
Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình MTQG xây dựng NTM, GNBV và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 203