Cụ thể, theo một điều tra mới đây của Cục BVTV, có đến 40% tỷ lệ người nông dân trồng rau tại các tỉnh sử dụng thuốc BVTV sai cách với nồng độ cao hơn mức cho phép, tỷ lệ nông dân pha trộn 2 – 3 hoạt chất, sản phẩm thuốc BVTV khi phun chiếm 70%.
Ngoài ra, phần lớn nông dân trồng rau hiện nay sử dụng thuốc BVTV từ 2-3 lần/tháng, thậm chí, nhiều nhà vườn còn sử dụng các hoạt chất ngoài danh mục cho phép của ngành trồng trọt khi sản xuất, thâm canh rau, củ, quả.
Ông Lê Văn Thiệt – Phó Chánh văn phòng Cục BVTV phía Nam, cho rằng, trong khi diện tích vùng trồng rau an toàn cả nước tính đến nay vẫn còn rất khiêm tốn, chỉ chiếm tỷ lệ 7,4% tổng diện tích trồng rau trên cả nước trong khi số sản phẩm thuốc BVTV đăng ký sử dụng trên rau có đến gần 700 loại.
Còn theo ông Đào Duy Tâm – Phó Giám đốc Sở NNPTNT Hà Nội, để đủ điều kiện sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, nông dân phải đủ 4 - 5 loại giấy chứng nhận, từ xét nghiệm mẫu nước, mẫu đất, nơi sản xuất phải nằm trong vùng quy hoạch... Sau đó, phải đáp ứng các vấn đề về điều kiện sơ chế. Cửa hàng bán rau VietGAP, rau an toàn... cũng phải xin phép chứng nhận đủ điều kiện.
“Muốn sản xuất rau an toàn, nông dân phải xin phép khắp nơi, lượng giấy chứng nhận này tương đương với 5–7 giấy phép con trong các ngành khác, trong khi thời hạn hiệu lực của chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP chỉ trong 1 năm, nông dân không thể kham nổi chi phí các chứng nhận này”- ông Tâm nhấn mạnh.
Theo Khải Huyền/danviet.vn
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026–2035
Thực hiện Kế hoạch số 22-KH/TU ngày 25/12/2025 của Tỉnh ủy thực hiện Kết luận số 219-KL/TW của BCT về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19 NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Kế hoạch chuyển đổi số năm 2026
Thực hiện Kết luận số 219-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của BCH TW Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030