Trong số này có 9 loại cá sơn, 11 loại cá bơn, 2 loại cua hộp, 3 loại cá đàn lia, 2 loại cá ông lão, cá lè ké, 2 loại cá khế, cá bè xước, cá dao đỏ, cá bướm, cá bơn vẩy vàng, 5 loại cá chình, 2 loại cá đuối, cá tai tượng, cá móm, 3 loại cá chai, cá ngát, 2 loại cá nhụ, cá rô biển vàng, 10 loại ghẹ, 4 loại cá đuối, tôm vỗ, 2 loại mực nang, 2 loại cá song, cá mú 6 sọc, 13 loại tôm, cá dìa, 2 loại cá đục, 2 loại cá tráp, cá bánh đường, cá nhông, cá đù móm, 2 loại cá mặt quỷ, 5 loại cá lượng, mực tuộc, cá lưỡi dong hơi, bồ điệp, 2 loại cá dưa, 6 loại cá phèn, cá bánh lái, cá đầu vuông, 2 loại cá hồng, cá bàn chân, 4 loại mực, 5 loại cá mồi, 2 loại cá căng, 4 loại cá nóc, cá bò 3 gai, 2 loại cá chào mào, 2 loại cá xem sao, 3 loại cá bống, cá rễ cau, cá sạo, cá mó, cá vạng mỡ, 11 loại cá liệt.
Cụ thể về tên khoa học, hình dáng các loại cá nằm trong danh mục Viện Nghiên cứu Hải sản lập ra như sau:




















H.X
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Kế hoạch chuyển đổi số năm 2026
Thực hiện Kết luận số 219-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của BCH TW Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030
Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình MTQG xây dựng NTM, GNBV và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 203
Nghị quyết 159/2025/NQ-HĐND ngày 29/10/2025 Quy định mức hỗ trợ khắc phục dịch bệnh động vật trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh